Truyện ngắn: KHOÁI CẢM CHẾT (tác giả: Kàra Khonh)
Truyện ngắn: KHOÁI CẢM
CHẾT
(Kàra Khonh)
*
1.
Thành phố dâng lên. Tôi tra chìa, mở
khóa, dẫn xe, bước vào, khép cửa. Ngoài kia, bóng tối chết trước thềm. Căn
phòng trên tầng thượng lặng câm khiến tôi tưởng chỉ còn mình với thế gian. Rọ rại
mở đèn, vén màn, tôi bật tung cửa sổ. Gió lùa vào! Tôi như được tiếp hơi thở.
Không làm gì, chỉ ngồi, một ngày dài
đô thị vắt kiệt tôi. Thấy mình như vỏ cây chết cứng khô khốc, suốt con đường chật
cứng xe cộ, tôi muốn sập nguồn. Ngồi đó, sân thượng vắng. Mấy tòa cao ốc xa xa
yên lặng, bất động.
Bóng trối sân thương, gió hiu hiu,
tôi ngó mắt nhìn. Tôi thấy lòng đã gieo mình xuống dưới. Sân thượng trống hoác,
chỉ có thành sắt cao tới thắt lưng. Tôi thấy tôi đứng đó, trên sân thượng.
Thành phố ngoài kia vẫn ùn ùn. Tôi thấy tôi đứng khóc một mình trên sân thượng.
Cuối cùng, tôi gieo mình xuống đất. Rơi nhanh và lặng yên như viên sỏi nhỏ,
không hồi âm! Hồn tôi gieo mình hàng vạn lần như thế, chỉ còn thể xác cứng đờ của
tôi sau một ngày rũ rượi văn phòng!
2.
Bà cụ gần chín mươi, nằm đó như xác ướp.
Thỉnh thoảng tôi đi ngang cầu thang, nghe tiếng rên hờ, mới hay bà còn sống. Bà
cụ nằm đó nhưng cứ thấy trống rỗng. Nhiều lúc, tôi như không còn thấy bà cụ nữa.
Bà già biến thành hư không, hoặc bà còn đó nhưng đã trong suốt. Chỉ lờ mờ, tôi
thấy hơi hám bà, cái hơi hám già nua, ủ rũ, bệnh tật và hằn học.
Tuổi già càng khiến bà khó chịu. Hồi
mới đến thuê trọ, tôi đã tin rằng bà nhân hậu. Bởi bà thường hay chào hỏi mọi
người, gửi những ân cần lắm lắm. Tưởng như bà nhớ hết tất cả người quen cũ, vẫn
khắc như in nếp sống và thói quen của từng người mà lòng bà lúc nào cũng trông
mong gặp lại. Những đứa con xa, những đứa cháu yêu một tay bà ẵm bồng. Dần rồi mới
hay, bà chỉ nói cho thỏa. Kỳ thực chẳng có những chuyện nào như thế! Con cháu
yêu thương đã lừa bà ký giấy. Chúng bán nhà, chuồn mất. Bà phải đến ở nhờ nhà của
đứa con gái tật nguyền. Đứa con gái thuở nhỏ bà hắt hủi, đánh đập vì cho rằng
nó là lời nguyền của tằng tổ gieo xuống đời bà.
Và tôi cũng phát hiện, ngay khi tôi vừa
bước lên cầu thang, nụ cười xởi lởi của bà tan biến. Thay vào đó là cái nhíu
mày và ánh mắt liếc xéo như dùi chỉa vào người khác. Chắc bà quên, bà chẳng còn
là mệnh phụ phu nhân của đô thành xa hoa.
“Giờ bà ăn bám con què này, bớt ra vẻ
dùm cái!”.
Cô con gái của bà nay cũng đã chớm
già, hẩy cho bà chén cơm, vừa quát vừa lê chân đi!
Rồi cô bưng một tô sữa vừa hăm lại
cho ấm. Cô con gái vỗ về ôm vào lòng con chó nhỏ. Con chó trắng muốt ỏng eo nằm
ưỡn trên nệm. Mấy lúc như thế, tôi thấy mình đã ở đó, một tay nắm đầu, một tay
nắm cổ. Tôi vặn ngọt đầu cổ con chó trắng. Máu sẽ tứa ra cả hai tay. Con chó
không kịp kêu ư ử. Và tay tôi kéo ra, đầu nó còn lòng thòng theo những ruột rà.
Nó không còn nằm ưỡn. Cái thân chó không đầu, phún máu ra. Máu bầm đen nhuộm ướt
lông trắng. Bốn chân nó giãy giụa khiến tấm chân ngoày ngoạy không đầu càng trở
nên kỳ quái. Trên tấm nệm êm ái và máng ăn khắc tên “Si iu”, xác chó chết ương
phình lên, thối ngút đất trời!
3.
Hôm nay lại một ngày dài đẵng đẵng.
Tôi không để ý lúc về đến nhà đã mấy giờ. Chỉ thấy mọi căn phòng trong nhà đều
đóng im ỉm. Ngoài kia, thành phố vẫn ùn lên. Tôi nằm đó không bật đèn. Bóng tối
ụp lên mặt, bóng tối dìm tôi xuống nệm, bó thít cả hai chân hai tay. Mỗi ngày rời
khỏi văn phòng, tôi cạn kiệt. Chỉ ráng lê về nhà, rồi sập nguồn! Muỗi vo ve,
lòng tôi dâng lên niềm thù hằn không thể nói ra được cũng không thể hiểu được.
Tiếng the thé từ cửa miệng ông sếp đồng bóng ri rỉ bên tai. Con mẻ ỏng ẹo đi tới
lui cả ngày, sẵn sàng bĩu môi và nói những lời cay độc, và luôn sẵn sàng bẹo
hình bẹo dạng khi gặp “cọng tươi”.
“Chị Ba yêu cưng, chị Ba hun cưng!”.
Rất nhiều lần, tôi dám chắc ả cố
tình. Lúc nào cũng sắp giờ tan làm, ả ta lại giao việc. Có những lúc chỉ còn
tôi trong văn phòng. Đèn đóm tắt hết, bóng tối văn phòng khiến tôi tưởng âm hồn
của những nhân viên từng làm việc ở đây. Như thể, oán khí của họ còn chất chồng
vương vẩn, khiến cho bóng tối văn phòng hình như dày hơn, sâu hơn, ám mị hơn.
Một mình tôi ở lại giữa bể oán khí,
cay nghiệt. Và ả ta ngồi đó, quay lưng, tôi không thấy mặt ả. Có lẽ vì tôi chẳng
bao giờ nhìn thẳng mặt ả; chỉ khi nào ả rời đi, tôi mới ngó từ xa. Thế nên, khi
bóng tối căn phòng bao trùm, ả ngồi đó, ngọn đèn bàn yếu ớt chớp tắt, tôi vung
con dao nhọn. Lưỡi dao thon, dài ba gang tay. Tôi tận hưởng cảm giác rung lên
sung sướng khi nhát dao cắm phập vào tấm lưng đĩ thỏa của ả, cắm xuyên vào lồng
ngực ả, thọt ngược lên cổ hỏng ả, cái cổ họng e é rủa xả lời cay độc. Cứ nhấp
nhứ tới lui, tôi muốn chắc rằng con dao đã ngập chìm trong đờm dãi máu me huyết
quản của ả. Mùi máu tanh nồng và ấm phọt tứa ra, lênh lán. Thần cốt tôi rúng động,
rùng mình, chất ngất, những cảm xúc lâng lâng nhẹ nhõm và thư thái bao trùm
lòng dạ tôi. Trái tim tôi lúc đó như được thấm nhuần một cảm giác hưng phấn tột
độ. Làm sao có thể dừng lại, hàng chục nhát dao lụi vào da thịt ả. Nhát lưỡi của
ả mỗi khi chì chiết người khác tưởng như cũng ngọt như nhát dao lụi vào cổ họng
này. Niềm khoái cảm văn phòng của tôi! Mỗi khi ả lừ lừ xuất hiện trong tầm mắt,
tôi đều dâng lên suy nghĩ như thế, tôi đâm chết ả mỗi ngày.
4.
Nghe nói nằm trong danh sách nhân
viên bị sa thải, mặt tôi xanh chành. Nhưng rồi chuyện đó cũng thành ra sự thực.
Hụt chân sa hố không đáy, bữa làm cuối cùng, tôi ngơ ngẩn. Chiều về, dọn dẹp một
vài đồ trên bàn làm việc. Tôi hỗn loạn cảm xúc, không thể định nghĩa tâm trạng
tôi lúc này, tôi không rõ mình rơi vào trạng thái gì? Như được giải thoát nhưng
cũng không phải được giải thoát!
Nhiều tháng liền tôi không xin được
việc. Thành phố với tôi bây giờ như kẹt xe hai mươi bốn trên bảy.
Đói … vì đói, đúng là cơn đói khiến đầu
óc người ta sáng ra nhiều thứ. Phần lớn cuộc đời người ta dành để kiếm miếng
ăn; nhưng ăn rồi ỉa; cứ vậy cuộc sống vận hành. Cơn đói khiến đời mình hiện
nguyên hình là những chuỗi ngày ăn ỉa miên man. Cơn đói làm chứng, làm còi báo
hiệu cho chuỗi ăn ỉa đó. Ôi cơn đói minh triết! Đói làm cho sự ăn thành ra
thiêng liêng vô cùng!
Một trong số những phát kiến do cơ
đói mang lại, phải làm gì có tiền ngay! Cơn đói không biết chờ đợi. Tôi tham
gia những nhóm làm thời vụ, làm xong lấy tiền liền sau ca. Chỉ có vậy mới giải
quyết được cơn đói treo lơ lửng trên đầu.
Làm được ít lâu mới ngộ ra, đúng là
việc ngon ăn sung sướng, việc có danh dự thì không ai kêu đám người đầu đường
xó chợ này. Đúng là cái khổ làm ta quen dần với cái nhục. Chắc vậy nên thiên hạ
thường nói đã khổ thì phải nhục! Lỗ tai tôi quen dần mấy tiếng đụ má đéo bà. Tiếng
muỗi vo ve. Tôi thấy bóng tôi trong kính xe tải, hình hài giờ như chồn chó vật.
Mà nhục có hề gì khi đói khát chỉ cái
ăn mới có thực. Dần rồi tôi đâm ra khoái trá khi nghe thằng chủ quản chửi rủa.
“Đụ mẹ, ăn như hạm mà lì như trâu, mới
làm đó mà kiếm chỗ chui vô trốn việc rồi”.
Thái độ trệch thượng và bộ mặt của nó
thật hay ho. Tôi cứ nhìn đăm đăm. Xem tướng đứng dạng háng của nó, tôi đã lao tới
như tên bay. Thật dứt khoát, tôi giáng ngay búa tạ xuống đỉnh đầu nó. Tiếng sọ
vỡ giòn tan và thân hình nó đổ xuống không kịp ngáp. Hồn tôi dâng tràn khoái cảm,
hơn cả lên đỉnh. Giã sọ như giã cua, những não tủy huyết bầm và thân hình bất động
không tiếng nói của nó, hồn tôi đứ đừ lạc thú.
“Thôi nó chửi kệ mẹ nó, ráng làm chút
nữa, sắp tan ca rồi!”.
Chiều dần tàn trên những nóc chung
cư. Nắng quện hơi nóng vào mặt đường bê tông, phả lại sức thiêu đốt hầm hập.
Hai lỗ mũi mở ra hết mức mà như không đủ thở. Rít một hơi thuốc lá, tôi ngồi bệch
trên mặt đường, mặt phờ ngu. Tay chuyền điếu thuốc cho thằng bên cạnh. Mắt vẫn
nhìn thằng chủ quan đi lại tới lui, chỉ trỏ, miệng phì đờm dãi đụ mẹ đéo bà.
5.
Tuyến metro lặng lờ trên không, tôi đứng
co ro. Cuối năm, trời se lạnh. Năm nay hình như lạnh hơn mọi năm. Sau khi gọi hỏi
người dắt mối dẫn công, tôi không gửi xe xuống hầm xe siêu thị mà đứng chờ. Phải
chính miệng thằng kêu công xác nhận sẽ trả tiền giữ xe thì đám thời vụ chúng
tôi mới chạy xe xuống hầm gửi. Nếu không, tiền công chưa tới ba trăm ngàn mà
làm ca đêm, phải giữ xe qua đêm, mỗi chiếc bốn mươi nghìn. Coi như cả đêm quần
quật khuân vác chẳng được bao nhiêu. Rồi hằng hà những chuyện khác, lũ “ma cô”
dắt mối làm thời vụ không phải keo kiệt bủn xỉn mà đúng thực đĩa vắt. Kinh nghiệm
nhiều lần bị quỵt tiền công khiến tôi không manh động. Tụi nó có thể viện đủ thứ
lí do để bớt xén, trừ tiền hoặc cướp trắng tiền công. Chỉ vì có khi thằng nào
đó lớn tiếng hoặc ngu ngục mà cãi lại quản đốc thì coi như làm mọi tụi nó một
ngày công.
Nam vừa nói vừa cười, miệng khạc nhổ.
“Nãy vô đái, sẵn vòi nước, tao uống no
bụng, khỏi mua nước tốn tiền”.
Nó đắc ý nói. Kéo lưng quần đang xệ tới
hàng, ngồi xuống, đưa mắt nhìn đường khuya vắng xe cộ.
“Đụ mẹ, mấy thằng khốn nạn, kêu công
làm mà nước lọc cũng không cho”, tôi chửi thầm. Vừa mệt vừa khát, container
hàng cứ tới liên tục, giờ chỉ thèm uống ngụm nước. Thấy người ta dắt chó đi dạo
trong khu biệt lập của chung cư, nghĩ mình thua con chó. Chợt nghĩ, sao người
ta có thể thương yêu chó mèo vật nuôi, mà không thể thương nổi đồng loại của
mình. Thà sống với chó còn hơn sống với người.
Giữa khu đô thị sang trọng, tôi thấy
bọn tôi như nghèo hơn, mạt rệp hơn bao giờ hết. Thằng quản lý giao công thời vụ
nhưng không lo nước uống, anh em mang theo người một bình, làm từ lúc chín giờ
tối đến tận bảy giờ sáng, ai cũng khát, nhưng không có nước uống. Bọn quản đốc
trong siêu thị tỵ nạnh bọn kêu công; bọn kêu công đổ thừa ngay từ đầu không hề
nói sẽ lo nước uống. Hưng trọc với Linh xì ke khát cháy cổ họng, buộc phải bóp
bụng vô cửa hàng tiện lợi gần đó mua chai nước lớn. Cũng hơn mười ngàn, nhưng
ngày công chỉ có hai trăm rưỡi, nhiều đứa nhịn khát, tới sáng mặt xanh chành.
“Tụi bây dư tiền quá, vô toilet uống
cho rồi”.
Nam nói không chút ngại ngùng, dửng
dưng hút ké điếu thuốc của tôi trong lúc nghỉ giải lao. Tôi nhìn mặt nó, thấy mặt
nó đen như trời đêm thành phố. Gió khuya cuối năm bó siết khuôn mặt nó! Tôi ngồi
lặng, rít một hơi thuốc lá rồi chuyền nhau.
Cuối năm rồi, ráng làm thêm ít hôm,
kiếm được nhiêu hay nhiêu. Đám công thời vụ này mình mẩy xăm trổ, mặt mày bặm
trợn, ăn nói toàn đụ đéo; nhưng ngồi lặng nhìn mặt tụi nó bơ phờ cuối ca làm,
tôi biết đứa nào cũng bán mạng bán sức không phải vì mình mà vì người khác.
Nhưng thành phố này làm gì có chỗ cho mấy đứa lục lâm thảo khấu như vầy!
Lòng tôi chợt nôn nao, hơi gió này là
sắp Tết rồi. Ở dưới quê không biết có ai trông!
6.
“Cho ăn học đã giờ vác mặt về quê thất
nghiệp”.
Tôi nghe bên hàng xóm có tiếng nói
như giận, vẻ rất hằn học. Chắc cô chú Tám cãi lộn. Cơm bữa mà! Thằng Út bên nhà
sắp vô đại học, bữa nó nói ông già không cho đi học nữa. Nhưng nó muốn lên
thành phố. Chỉ có lên đó, nó mới thoát được cảnh quê tù túng này. Nó muốn vô đại
học. Thực ra, tôi thấy nó không biết vô đại học để làm gì. Chỉ là muốn tìm một
đường thoát.
Nó kể bữa năn nỉ má, kêu má xin tía
cho đi học. Ông già khăng khăng. “Học gì mà học”. Má nó nửa thương nửa lo.
Thương vì thấy nó muốn đi học mà cấm cản không đành; nhưng lo vì đi học tiền
nong tính sao. Nghe nói học phí bây giờ nhà khá giả nuôi con còn méo mặt; nhà
làm ruộng có nước cầm cố bán đất mới đủ tiền cho con tới trường.
“Học rồi về cũng đi làm xí nghiệp, còn
không thì chạy xe ôm. Giờ mày xin vô xí nghiệp cho rồi”.
Ngồi trước hàng ba, chú Tám nói vọng
xuống bếp; không biết thằng Út có nghe không.
“Lên thành phố múa may quay cuồng, tốn
cơm gạo; rốt cuộc cũng huề dốn. Mày không thấy thằng con ông Năm sao!”.
Ngồi bên nhà mà tôi nghe lồng lộng.
Thấy nhức đầu nhức óc, thốn thốn trong bụng quá! Chắc chú Tám không hay tôi
nghe. Tôi còn nhớ hồi mới hay đậu đại học, ổng còn mừng nói với ba mẹ tôi, ráng
cho thằng Út mai mốt học giỏi đậu đại học y vầy.
Kỳ này về quê thấy không êm rồi. Ở
thành phố đói quá, xin không được việc. Cứ rải hồ sơ hết công ty này đến tổ chức
nọ mà tiền làm hồ sơ một lượt cũng hết mấy trăm có phải giấy vụn đâu. Riết rồi
tiền làm hồ sơ không còn tiền ăn. Cảm giác quăng chài lưới ra, thu lại chỉ lưới
không, chán nản. Tôi về quê ít lâu.
“Thấy mặt trơ trơ, tối ngày cà nhổng
cà nhổng là ngứa con mắt”.
Ông anh tôi nhìn tới lại ứa gan vì thằng
ất ơ, nhảy cóc nhảy nhái, không ra đám ôn gì. Thất nghiệp sạch túi về ăn bám. Ổng
một nách hai con, bà vợ như mụ la sát. Ông bà già nghe ổng nói cũng nóng ruột.
“Sao mày không đi làm việc như người
ta. Ăn ở không hoài sao được!”. Ông già nói mấy lần, tôi trả lời gửi hồ sơ rồi.
Đợi người ta sắp xếp sẽ đi làm lại. Mà chắc ổng thấy ở dưới quê cả tháng rồi
không nhúc nhích, cũng chẳng có động tĩnh gì sẽ trở lại. Ổng ghét không hỏi nữa.
Tôi chỉ đau khi nhìn mặt bà già. Bà
không nói gì, lặng lẽ. Bà cũng chỉ dặn cơm nước đàng hoàng, nhắc nhở tắm giặt
ngủ nghỉ; nói thủng thẳng rồi đi làm, không sao! Nhưng nghe bà già nói, tôi muốn
cuốn gói đi cho rồi. Nhưng thành phố với tôi bây giờ trống rỗng. Không chỗ nào
dành cho tôi, không người nào trông đợi tôi, không người nào cần đến tôi! Thành
phố với tôi chỉ là căn phòng tối. Căn phòng trọ im thít. Nó giương đôi mắt đen
sâu tối của nó nhìn tôi nằm bẹp trơ trọi.
Thành phố ước vọng của tuổi đôi mươi,
với tôi bây giờ, thành phố ấy đã thối rữa.
7.
Không chịu nổi sự im lặng của ông già và lòng bao dung của bà già, tôi bỏ quê. Không thể cứ chôn chân như thế mãi được. Tôi khăn gói quay lại thành phố. Xe máy cũ cùng tôi hành trình. Đường đất đỏ từ nhà dẫn ra lộ vẫn vậy. Tôi nhớ từ hồi học tiểu học đến tận bây giờ, con đường này mưa xuống lầy lội, nắng xuống thì bụi đỏ mù trời. Thấy … phần số mình có lẽ cũng như con đường dẫn về quê, mãi vẫn còn rách nát dang dở. Tụi nhỏ bây giờ cũng ngày ngày cắp sách tới trường. Tập sách nó ghi mơ tưởng tương lai, ghi ước vọng của ba má nó. Nhưng tôi thấy những đứa cùng lớp người tôi, bây giờ hoặc ở quê làm ruộng, hoặc vô xí nghiệp làm công nhân. Quanh đi quẩn lại cũng sấp mặt sấp mũi vì cái ăn. Khu đất bưng ngày trước giờ cắm cọc hết rồi. Tôi nghe nói mai mốt quê tôi lên thành phố. Lòng tôi nóng ran.
“Mai mốt muốn trốn thành phố, không
biết quê đâu chạy về. Sau này có chạy, chắc là chỉ chạy từ thành phố này qua
thành phố khác, từ bãi lầy trớ qua vũng sình. Cũng như không!”.
Tôi nghĩ, tự nói trong lòng. Những khối
ung nhọt, bây giờ thành phố với tôi như khối u mưng mủ, ưng ức đau nhức, ứ căng
viêm nhiễm. Khối mưng mủ, hễ lễ ra thì máu chảy ròng ròng, hễ chịu đựng thì ê
nhức từng cơn. Những mùa mưa dầm dề nối tiếp mùa khô nóng rẫy mỡ, cứ mỗi khi
càng muốn trèo ra khỏi hố nhiệt thành phố tôi lại càng trượt xuống.
Tôi vừa nghĩ vừa dắt xe vào tiệm.
Nhìn nó một hồi, ông chủ tiệm cầm tiền ra. Vậy là xong, chiến mã của tôi giờ trở
nên con ngựa què trong chuồng. Không biết nó có được người ta chăn thả, hay sẽ
nằm bến trong nhà xe của tiệm cầm đồ, tôi tự an ủi, “có khi còn tốt hơn ở với
mình”.
Tôi nhận tiền, nói lời cảm ơn nhẹ như
không. Ông chủ tiệm không nhìn, quay lưng đi vào.
Nhìn ra mặt đường, tôi thất thỉu bước.
Thành phố ương chướng. Mưa không được, nắng không xong. Cứ có cái bứt rứt chằng
chịt, nền trời xám đục; mặt đất khô hanh. Tôi không biết tới những tháng sau sẽ
lấy gì cầm cố để cầm cự giữa đô thị hối hả.
Sau khi cầm xe máy, tôi đi bộ quãng
dài. Đi từ khi trời trưa đến lúc trời sập tối, tôi thực sự không biết sẽ tiếp tục
như thế nào!
8.
Chuyện gì mà toàn thứ ủ rũ, u ám! Tôi
thầm nghĩ con người này sao yếu đối và bạc nhược như thế. Chỉ có vậy mà đã
không chống chịu được. Thế nên, anh ta phát điên là phải.
Phần sau cuốn sổ ghi đại khái. Bị đuổi
khỏi nhà trọ, chính thức trở thành kẻ vô gia cư. Tối tối hắn hay ngồi trên hành
lang cầu NVC, chờ thiên hạ cho cơm từ thiện. Rồi chuyện hắn ngủ gầm cầu, bị đám
ma cũ đánh cho nhừ tử. Thanh sắt đập vào đầu. Từ đó, người ta thấy hắn ỉa đái bất
cần, la hét vô chừng. Có khi thiên hạ thấy hắn tỉnh như không, ngồi bó thu lu, ghi
ghi chép chép. Nhưng nhiều lúc hắn lên cơn rồ, khóc cười lộn xộn; sau lại ngồi
vô hồn trong góc phòng.
Chuyện sau đó, tôi chẳng thèm đọc nữa.
Tự thấy mình nực cười. Đúng là nhật ký thằng điên. Thành phố hiện đại sao lại như vườn thú điên loạn thế kia. Toàn những ngõ hẻm thần kinh. Chỗ
nào cũng hẩu lốn quay cuồng. Hoang đường!
Theo nhật ký một bệnh
nhân của tôi
Mùa Vu Lan, tại Chợ
Quán
Kàra Khonh

Comments
Post a Comment